Thứ bảy, 03/10/2026, 08:36 (GMT+7)

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản thu về 56,3 tỷ USD sau 9 tháng

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam mang về 56,3 tỷ USD. Các mặt hàng rau quả, thủy sản và gỗ tiếp tục tạo lực kéo, trong khi Trung Quốc nổi lên với mức tăng mua gần 19%.

Bất chấp thương mại thế giới còn nhiều biến động, xuất khẩu lâm, thủy sản của Việt Nam tiếp tục giữ được nhịp tăng trong 9 tháng đầu năm 2026. Không chỉ kim ngạch vượt 56 tỷ USD, cán cân thương mại của toàn ngành còn duy trì mức thặng dư lớn.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, riêng tháng 9, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 6,51 tỷ USD, cao hơn 5,7% so với cùng kỳ năm trước. Qua đó, tổng kim ngạch 9 tháng nâng lên 56,3 tỷ USD, tăng 7,8%. Ngành nông nghiệp xuất siêu khoảng 16,9 tỷ USD, tăng 7,4%.

xuatkhau_1790926767.jpg
xuatkhau_1790926767.jpg

Đằng sau mức tăng này là sự phân hóa khá rõ giữa từng nhóm hàng. Trong khi rau quả và thủy sản tiếp tục tăng hai chữ số, một số mặt hàng từng đóng góp lớn như cà phê, gạo hay cao su lại chịu tác động từ giá và nhu cầu thị trường.

Xuất khẩu rau quả, thủy sản và gỗ trở thành ba lực kéo lớn

Xét theo nhóm hàng, nông sản vẫn chiếm quy mô lớn nhất với kim ngạch 29,28 tỷ USD sau 9 tháng, tăng 3,1%. Thủy sản đạt 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%; lâm sản đạt gần 14,41 tỷ USD, tăng 7,6%. Đáng chú ý, sản phẩm chăn nuôi tuy có quy mô còn khiêm tốn nhưng tăng tới 24,6%, đạt 564,4 triệu USD.

Rau quả là một trong những điểm sáng rõ nhất. Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm 2025. Trung Quốc tiếp tục giữ vị trí khách hàng quan trọng nhất khi chiếm khoảng 63% giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam.

Số liệu 8 tháng cho thấy xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc tăng tới 38,8%. Hai thị trường lớn khác là Mỹ và Hàn Quốc cũng lần lượt tăng 17,9% và 9,7%.

Thủy sản cũng đang có một năm khá tích cực khi kim ngạch 9 tháng đạt 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%. Trung Quốc chiếm 23,7% tổng giá trị, tiếp đến là Mỹ với 15,7% và Nhật Bản 14%. Riêng xuất khẩu sang Trung Quốc trong 8 tháng tăng 33,9%.

Ở lĩnh vực lâm sản, gỗ và sản phẩm gỗ đem về gần 13,43 tỷ USD, tăng 7,3%. Điểm đáng chú ý là sự dịch chuyển giữa các thị trường lớn. Mỹ vẫn chiếm hơn một nửa kim ngạch nhưng giá trị xuất khẩu giảm 4,6%, trong khi Trung Quốc tăng tới 43,4% và Nhật Bản tăng 5,3%.

Chỉ tính ba nhóm rau quả, thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ, kim ngạch đã tiến sát 30 tỷ USD. Đây đang là những trụ cột quan trọng giúp xuất khẩu toàn ngành duy trì tăng trưởng.

Trung Quốc tăng mua gần 19%, châu Á chiếm gần một nửa thị trường

Một điểm đáng chú ý khác trong bức tranh 9 tháng là vai trò ngày càng lớn của thị trường châu Á.

Khu vực này hiện chiếm 49,4% kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chính của Việt Nam. Châu Mỹ đứng thứ hai với 22,2%, tiếp đến là châu Âu 13,5%. Châu Phi và châu Đại Dương lần lượt chiếm 2,3% và 1,5%.

So với cùng kỳ năm ngoái, giá trị xuất khẩu sang châu Á tăng 11,9%. Châu Đại Dương cũng ghi nhận mức tăng đáng kể 15,5%, trong khi châu Mỹ tăng 2,3% và châu Âu tăng 2,6%. Riêng thị trường châu Phi giảm 16,7%.

Ở cấp độ từng quốc gia, Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản tiếp tục là ba khách hàng lớn nhất, lần lượt chiếm 24,4%, 19,8% và 7,4% thị phần.

Đáng chú ý nhất là Trung Quốc khi giá trị nhập khẩu nông, lâm, thủy sản từ Việt Nam tăng 18,9%. Không chỉ rau quả và thủy sản, thị trường tỷ dân còn tăng mạnh nhập khẩu gỗ, gạo và một số nông sản khác.

Diễn biến này cho thấy Trung Quốc tiếp tục là động lực đáng kể của xuất khẩu nông nghiệp Việt Nam trong năm 2026. Tuy nhiên, tỷ trọng lớn cũng đồng nghĩa doanh nghiệp cần chú trọng hơn đến việc đáp ứng các quy định về kiểm dịch, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc.

Cà phê, gạo gặp bài toán giá, xuất siêu vẫn gần 17 tỷ USD

Không phải mặt hàng chủ lực nào cũng cùng tăng trưởng.

Cà phê là trường hợp đáng chú ý. Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,4 triệu tấn trong 9 tháng, tăng 15,4% về lượng, nhưng kim ngạch lại giảm 7,3% xuống 6,54 tỷ USD. Nguyên nhân nằm ở giá xuất khẩu bình quân giảm 19,7%, còn 4.537 USD/tấn.

Gạo chịu sức ép ở cả lượng lẫn giá trị. Xuất khẩu đạt 6,4 triệu tấn, mang về 3,11 tỷ USD, lần lượt giảm 6,1% và 10,9%. Giá xuất khẩu bình quân giảm 5,1%, còn khoảng 484,8 USD/tấn. Philippines vẫn là khách hàng lớn nhất với 40,9% thị phần, trong khi Trung Quốc chiếm 17,4%.

Cao su cũng giảm 16,2% về lượng và 4,4% về giá trị, còn 1,1 triệu tấn và 2,18 tỷ USD. Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân lại tăng 14,1%, lên hơn 2.016 USD/tấn.

Ở chiều tích cực, hạt tiêu đem về khoảng 1,4 tỷ USD, tăng 10,2%, trong khi hạt điều đạt 3,85 tỷ USD, tăng 2% dù lượng xuất khẩu giảm nhẹ. Điều này cho thấy giá bán vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì kim ngạch đối với một số nông sản.

Trong 9 tháng, Việt Nam đồng thời nhập khẩu khoảng 39,4 tỷ USD hàng nông, lâm, thủy sản, tăng 8%. Nhờ xuất khẩu đạt 56,3 tỷ USD, toàn ngành vẫn tạo ra thặng dư thương mại khoảng 16,9 tỷ USD.

Kết quả này tạo nền tảng đáng kể cho quý cuối năm, song bức tranh từng mặt hàng cho thấy tăng trưởng đang ngày càng phụ thuộc vào chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng mở rộng thị trường hơn là chỉ tăng sản lượng. Khi giá một số nông sản chủ lực biến động mạnh, việc chế biến sâu, đa dạng hóa khách hàng và giảm phụ thuộc vào một vài thị trường lớn sẽ trở thành bài toán quan trọng để duy trì đà xuất khẩu.

Uyên Chi

Thứ bảy, 03/10/2026, 08:33 (GMT+7)
Hotline: 0979 47 42 45

Nổi bật

Mới nhất