Thị trường xe điện bùng nổ, Bộ Công thương muốn siết chuẩn trụ sạc và trạm sạc
Thị trường xe điện tăng trưởng nhanh kéo theo sự phát triển mạnh của hạ tầng sạc. Tuy nhiên, hệ thống trụ sạc hiện được đầu tư, vận hành theo nhiều tiêu chuẩn và mô hình khác nhau, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một quy chuẩn thống nhất.
Bộ Công thương đang lấy ý kiến xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về trụ sạc và trạm sạc xe điện, trong bối cảnh hạ tầng phục vụ phương tiện điện tại Việt Nam phát triển nhanh nhưng vẫn tồn tại nhiều khoảng trống trong quản lý.
Theo cơ quan này, sự gia tăng nhanh của xe điện đang kéo theo nhu cầu lớn về hệ thống sạc và các dịch vụ đi kèm. Trong khi đó, các trụ sạc được sản xuất, nhập khẩu và đưa ra thị trường theo nhiều hệ tiêu chuẩn khác nhau, còn hoạt động của một trạm sạc sau khi lắp đặt lại liên quan đến nhiều vấn đề như: an toàn điện, phòng cháy chữa cháy, môi trường và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Số liệu được Bộ Công thương tổng hợp trong quá trình xây dựng hồ sơ cho thấy thị trường ô tô điện tại Việt Nam đang tăng trưởng mạnh. Năm 2023, cả nước tiêu thụ 15.676 ô tô điện thuần, trong đó có 15.486 xe sản xuất, lắp ráp trong nước và 190 xe nhập khẩu.
Đáng chú ý, chỉ trong 6 tháng đầu năm nay, lượng ô tô điện thuần tiêu thụ đã đạt 17.536 xe, cao hơn cả năm 2023. Trong số này, xe sản xuất, lắp ráp trong nước chiếm áp đảo với 17.482 xe, trong khi xe nhập khẩu chỉ đạt 54 xe.
Sự tăng trưởng nhanh của phương tiện điện kéo theo nhu cầu mở rộng mạng lưới sạc. Theo số liệu trong hồ sơ xây dựng quy chuẩn, một mạng lưới sạc lớn tại Việt Nam hiện đã phát triển khoảng 150.000 cổng sạc trên toàn quốc, với công suất có thể lên tới 360 kW.
Hệ sinh thái này cũng ngày càng đa dạng về chủ thể tham gia. Không chỉ các nhà sản xuất ô tô đầu tư mạng lưới sạc, thị trường còn có trạm sạc tại đại lý, thiết bị bán hoặc lắp đặt tại nhà khách hàng, mạng sạc công cộng do doanh nghiệp độc lập vận hành, cùng các điểm sạc tại nơi làm việc, khu vực trông giữ xe và các điểm dịch vụ.
Sự tham gia của nhiều doanh nghiệp cũng kéo theo sự phát triển của một hệ sinh thái rộng hơn, bao gồm nhà sản xuất thiết bị, đơn vị cung cấp phần mềm, giải pháp thanh toán, vận hành và bảo trì. Tuy nhiên, chính tốc độ mở rộng này cũng khiến bài toán quản lý trở nên phức tạp hơn.
Hạ tầng phát triển nhanh nhưng thiếu chuẩn chung
Theo Bộ Công thương, hiện các trụ sạc trên thị trường được sản xuất, nhập khẩu và lưu thông theo nhiều hệ tiêu chuẩn, bao gồm tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn quốc gia và cả tiêu chuẩn do doanh nghiệp tự công bố.
Trong khi đó, một trạm sạc sau khi được lắp đặt không chỉ là một thiết bị điện đơn lẻ mà trở thành một hệ thống có liên quan đến nhiều yêu cầu kỹ thuật khác nhau.
Các vấn đề từ điện lực, an toàn điện, xây dựng, phòng cháy chữa cháy, đo lường, giao thông, môi trường đến bảo vệ người tiêu dùng hiện được điều chỉnh ở nhiều văn bản và lĩnh vực chuyên ngành. Điều này dẫn tới khó khăn cho cả cơ quan quản lý lẫn doanh nghiệp khi triển khai dự án.
Chẳng hạn, chủ đầu tư và đơn vị thiết kế, lắp đặt có thể gặp vướng mắc trong việc xác định các yêu cầu về mặt bằng, vị trí bố trí ô sạc, tổ chức giao thông, nền móng, thoát nước, khoảng cách thao tác hay giải pháp bảo vệ trụ sạc trước nguy cơ phương tiện va chạm.
Việc chưa có một văn bản kỹ thuật thống nhất cũng khiến ranh giới giữa yêu cầu đối với sản phẩm trụ sạc và yêu cầu đối với toàn bộ hệ thống trạm sạc sau lắp đặt chưa được phân định đầy đủ. Đây là khoảng trống mà Bộ Công thương cho rằng cần được giải quyết khi xây dựng QCVN mới.
Một trong những nội dung được đặc biệt lưu ý là vấn đề cung cấp và sử dụng điện cho các trạm sạc. Hiện việc lựa chọn cấp điện áp, tính toán công suất, hệ số đồng thời, đấu nối, đo đếm, chất lượng điện năng và quản lý phụ tải chưa có hướng dẫn tích hợp riêng cho mô hình trạm sạc.
Trong khi đó, đặc thù của trạm sạc xe điện là có thể xuất hiện phụ tải lớn trong cùng một thời điểm. Khi số lượng trạm sạc công suất cao tăng nhanh, việc tính toán và quản lý phụ tải trở nên quan trọng không chỉ với từng điểm sạc mà còn đối với hệ thống điện tại khu vực.
Các thiết bị bảo vệ như RCD, thiết bị phát hiện dòng dư một chiều, bảo vệ quá dòng, ngắt mạch, chống xung sét, nối đất hay thiết bị ngắt điện khẩn cấp cũng cần được áp dụng thống nhất giữa trụ sạc và hệ thống phân phối điện nội bộ.
Theo Bộ Công thương, trụ sạc và trạm sạc có thể phát sinh nhiều nhóm rủi ro cùng lúc, từ an toàn điện, quá tải và ảnh hưởng tới lưới điện, phòng cháy chữa cháy đến va chạm giao thông, môi trường, đo lường và giao dịch.
Vì vậy, việc chuẩn hóa không chỉ nhằm bảo đảm thiết bị đạt yêu cầu kỹ thuật mà còn phải tính đến toàn bộ quá trình từ thiết kế, lắp đặt đến vận hành.
Trạm sạc công cộng không còn chỉ là một thiết bị điện
Một điểm đáng chú ý khác là sự phát triển của các trạm sạc công cộng đang khiến yêu cầu quản lý mở rộng sang lĩnh vực công nghệ và dữ liệu.
Bộ Khoa học và Công nghệ đã có quy định về quản lý đo lường, trong đó Thông tư 03/2024 bổ sung thiết bị đo điện năng sạc pin xe điện vào diện quản lý. Tuy nhiên, theo Bộ Công thương, quản lý đo lường mới chỉ giải quyết một cấu phần của hệ thống.
Đối với trạm sạc công cộng, hoạt động vận hành ngày càng phụ thuộc vào phần mềm, hệ thống truyền thông và nền tảng thanh toán. Do đó, quy chuẩn mới cần tính đến những yêu cầu tối thiểu về đồng bộ thời gian, phân quyền, nhật ký vận hành, lưu trữ, sao lưu và bảo vệ dữ liệu.
Nói cách khác, một trạm sạc hiện đại không còn đơn thuần là nơi cung cấp điện cho phương tiện. Đây là một hệ thống kết hợp giữa thiết bị điện, hạ tầng xây dựng, phần mềm, thanh toán, đo lường và dữ liệu. Sự thay đổi này đòi hỏi cách tiếp cận quản lý cũng phải thay đổi tương ứng.
Một bài toán khác được đặt ra khi xây dựng quy chuẩn là số lượng lớn trạm sạc đã được đưa vào hoạt động. Theo Bộ Công thương, hệ thống trạm sạc hiện hữu được hình thành qua nhiều giai đoạn, với chất lượng thiết bị và hồ sơ kỹ thuật không đồng nhất.
Do đó, nếu chỉ áp dụng quy định mới đối với các dự án xây dựng trong tương lai mà không có phương án đối với hệ thống hiện hữu, khoảng trống về an toàn vẫn có thể tồn tại.
Bộ Công thương cho rằng cần xây dựng lộ trình rà soát và khắc phục phù hợp đối với các trạm đang hoạt động, đồng thời ưu tiên xử lý ngay những nguy cơ có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn.
Bên cạnh đó, các yêu cầu liên quan đến phòng cháy chữa cháy cũng cần được xác định rõ hơn, từ việc bố trí phương tiện chữa cháy, biển cảnh báo, nội quy, tiêu lệnh đến điều kiện ngừng khai thác và phương án phối hợp khi xảy ra sự cố.
Bước chuẩn hóa mới của thị trường xe điện
Việc xây dựng QCVN về trụ sạc và trạm sạc xe điện diễn ra trong bối cảnh thị trường xe điện Việt Nam đang bước vào giai đoạn mở rộng nhanh cả về phương tiện lẫn hạ tầng.
Với khoảng 150.000 cổng sạc đã được phát triển và công suất trụ sạc có thể lên tới 360 kW, quy mô của hạ tầng này không còn ở mức thử nghiệm mà đã trở thành một bộ phận ngày càng quan trọng của hệ thống giao thông và năng lượng.
Trong bối cảnh đó, một quy chuẩn thống nhất có thể tạo cơ sở để doanh nghiệp xác định rõ yêu cầu kỹ thuật ngay từ khâu đầu tư, thiết kế và lắp đặt, đồng thời giúp cơ quan quản lý có căn cứ chung trong kiểm tra và giám sát.
Về phía thị trường, việc chuẩn hóa cũng có thể thúc đẩy cạnh tranh theo hướng minh bạch hơn giữa các nhà cung cấp thiết bị, đơn vị vận hành và doanh nghiệp cung cấp giải pháp công nghệ.
Từ thực tiễn trên, Bộ Công thương đánh giá việc xây dựng QCVN về trụ sạc và trạm sạc xe điện là cần thiết, cấp bách, phù hợp với tốc độ phát triển của thị trường và yêu cầu quản lý nhà nước.
Các ý kiến đóng góp được yêu cầu gửi về Cục Công nghiệp (Bộ Công thương) trước ngày 20.8.
Nguyễn An












